Thứ Ba, 15 tháng 10, 2013

Mẹo hay Hai người đàn bà xứ lăng loàn tình phộc.

Hai mươi hai năm chị chăm anh nằm liệt giường mà da thịt chồng vẫn mát mẻ, vẫn hồng hào cho đến tận lúc đi vào cõi hư không

Hai người đàn bà xứ linh tinh tình phộc

Chị bảo rằng số mình trời định, mình chịu chứ không nỡ trách ai. Sau khi tập thể dục, chị bón từng thìa cơm, muỗng canh cho chồng, chăm từ cái tăm, chén nước. Anh ngủ rồi không bao giờ dậy được nữa. Ốm đau quặt quẹo thế nhưng không may là anh Biên đánh mất hết giấy tờ hồi đi quân nhân nên chẳng có chế độ ưu đãi gì.

Bán ở chợ xa được giá hơn chợ quê mình vài đồng tiền lẻ. Đông, chị trồng cà chua, su hào, cải bắp; hè, chị cấy muống. Khi cây cột cái trong nhà sụp xuống, chị Khiết âm thầm ghé đôi vai mềm yếu của mình vào xốc vác thay. Cái thang không người giữ chân cứ bồng bềnh, cứ rung lên theo từng nhịp bước. Đâu đấy rồi chị vặn chiếc đài nhỏ cho chồng nghe tin tưởng, giơ thuộc cấp của anh lên tập mươi mười lăm phút để máu huyết lưu thông khỏi thối da, thối thịt.

Năm 1991, Ngô Đại Biên nằm liệt giường hẳn. Thoạt tiên chỉ là triệu chứng co rút ngón chân sơ sơ nhưng khi đi bệnh viện chiếu chụp mới biết một xương bả vai gãy mọc chèn vào các dây tâm thần khiến cho toàn thân anh có nguy cơ bị liệt mà chẳng thể đụng dao kéo vào đó được.

Làng chị cứ bốn nhà lại nuôi chung một con trâu, hôm nào đến vụ luân phiên nhau cày, bừa, cấy, hái. Mái nhà đơn sơ của đôi vợ chồng trẻ ngỡ chật ních tiếng cười và niềm hạnh phúc khi họ đón đứa con trai đầu lòng. Anh khóc. Vài buổi một lần chị con cón mời mấy ông bạn vàng của chồng đến mà xem gà chọi, xem những chiêu thức mới được trui rèn… Một buổi đêm anh kêu khó thở.

Chị khóc giấu nên không hề có tiếng, khóc mà sáng ra vẫn nở nụ cười tươi mỗi khi xáp mặt chồng. Anh nằm liệt giường liệt chiếu, tiểu tiện đã có ống ti - ô chảy vào một cái chai nhựa để sẵn bên dưới nhưng đi ngoài mỗi lần mất cả buổi vì bệnh đường tiêu hóa liên miên mà vẫn thấy vợ kiên nhẫn đứng bên cái bô chờ.

Nông gia nặng nhọc nhất chuyện cày bừa. Từ một giờ sáng trở đi, cái tai chị theo quán tính cứ ngong ngóng tiếng ngáy to, tiếng ngáy nhỏ, thỉnh thoảng lại thon thót gọi thử xem từng động tĩnh của chồng.

Không nói nhưng nhìn vào mắt cha, người con trai biết bố mình đang hạnh phúc. Những buổi đi làm ngoài đồng chị bắt nhái, cuốc giun, đổ dế để gột gà rồi cũng học xoa rượu ngâm nghệ, vần vò da thịt gà cho thêm phần săn chắc.

Hai mươi hai năm chăm chồng ốm liệt. Tây y bất lực, đông y thầy này thuốc nọ mãi cũng đành chào thua. Một năm vợ chồng.

Mùa nào thức ấy chị hái rau từ lúc nhọ mặt người, lặn lội thồ xuống tận thị xã Phú Thọ cách nhà hơn 20 cây số. Chị nhổm dậy định gọi bác sĩ nhưng anh gạt đi bảo để đến sáng mai, sợ khuya khoắt phiền nhiễu. Người ốm trái tính, trái nết lại mặc cảm chuyện bị liệt nên cố định anh không cho chị nằm chung giường.

Chị lại cho treo mấy tấm gương lửng lơ khắp nhà để anh nằm ngửa đầu lên khi xem ti vi khi nhìn hướng ra đường thấy hàng xóm đi qua gọi vào chuyện trò cho thỏa chí.

Ngày cưới con, chị đẩy chiếc giường cho chồng đi dự lễ. Dần dà bệnh tình tiến triển theo chiều hướng ngày càng xấu, anh chẳng thể đi lại được nữa, đặt đâu chỉ ngồi đấy, thuộc cấp dần co quắp lại như những khúc gỗ, vô tri, vô giác

Hai người đàn bà xứ linh tinh tình phộc

Anh lại sợ sau này con mình đường thẳng không đi lạc vào đường cong, quàng vào bụi rậm nên mới nhủ rằng: “Thôi thì vì dây nên cây phải sống”.

Anh Biên hôm cưới con trai    Đêm đến chiếc gối có thêu đôi bồ câu lồng vào nhau lại ướt sũng. Chuyện ở xóm Bờ Nụ    Chị Bùi Thị Khiết xe duyên cùng anh Ngô Đại Biên khi anh vừa phục viên trở về.

Anh đi, mà mọi kỷ vật vẫn còn đây, vẫn gợi nhắc đến bóng hình, đến giọng nói, tiếng cười của anh khiến chị càng thêm tủi.

Nào ngờ tai họa bỗng ập đến, một ngày anh phát hiện ra trọng bệnh. Hai mươi hai năm không đi đâu xa quá cái thị xã bé nhỏ của tỉnh mình. Biết thị hiếu của chồng là chơi gà chọi đến ngay cái sân phơi thóc của nhà cũng được chị kéo vài xe bò đất về biến thành bãi thi đấu. Như một chiếc đồng hồ đã được lập trình sẵn, bận bịu gì thì bận bịu hễ đến 11 giờ trưa chị cũng sấp ngửa về nấu cơm, bón cơm cho chồng xong rồi mới tíu tít đi.

Những lúc vui không bao giờ anh Biên nói ra thành lời mà chỉ khẽ nhắm mắt nhắm mũi lại, cố thu cảm xúc vào trong lòng nhưng dòng nước mắt vẫn trào ra, nhạt nhòa nơi gò má. Lắm hôm mưa gió trở giời chị chong đèn chạy khắp nhà chỉ để tìm một manh áo tơi che chồng, che con cho khỏi ướt để sáng ngày sau lại tự trèo lên mái ngói dọi nhà. Chiều tối những quy trình chăm chồng như buổi sáng lại được lặp lại… Khi mới biết cuộc thế mình không còn cách nào khác phải gắn chặt với cái giường, suốt ngày nằm một chỗ, tinh thần anh Biên suy sụp lắm.

Lời người vợ trẻ thấu đến tận tâm can người chồng tàn phế. Lắm buổi mất điện cánh tay chị thay gió trời phe phẩy quạt thâu đêm cho chồng mình ngon giấc. Chị Khiết bên con cháu    mới đầu anh Biên còn chống gậy gắng gượng cựa quậy bế đỡ con giúp vợ nhưng sau một lần đánh rơi đứa trẻ xuống sàn, anh sợ không dám bế nữa.

Thẳm sâu nơi cõi lòng, cả hai vợ chồng đều giấu nỗi sợ của riêng mình. Thương anh Biên một mình một chỗ dễ sinh chán lại suy nghĩ lẩn quẩn, chị đóng cho anh cái giường cao 80 cm, gắn mấy bánh xe dưới đó để ngày ngày đẩy ra hè hóng mát.

Chị sợ chồng chết lúc con còn nhỏ không biết hình hài của bố. Anh ngủ ngoài nhà, chị ngủ trong buồng, mỗi đêm người vợ trẻ phải tỉnh ba bốn bận.

Không bao giờ chị được ngủ quá ba tiếng đồng hồ mỗi tối, Thời gian ngắn ngủi đến ngay cả những giấc mơ cũng không có chỗ mà len vào đầu. Nhiều bận vác cuốc từ đồng về nhà thấy chồng đang nằm oằn oại giữa bệ rạc đống chất thải chị xăm xắn rửa ráy cho anh từng ly, từng tí.

Thời gian biểu mỗi ngày của chị là dậy từ bốn giờ sáng, cơm cháo, lợn gà, cho con ăn, bỏ màn, lấy nước súc miệng, rửa mặt cho chồng. Trước gia đình anh chị còn ở chung với ông bà nội, từ hồi chồng yếu chị Khiết xin ra riêng với 5 sào ruộng, mảnh trồng lúa, mảnh gieo màu. Mùa rét mới ngủ chị đắp cho anh một chiếc chăn, gần sáng trở mình dậy đắp thêm hai cái nữa vì người liệt thân nhiệt thường giữ ấm kém.

Chị lại một hai thủ thỉ cổ vũ chồng rằng: “Anh sống nằm đây, em đi làm về còn có bóng, có hình, còn nghe tiếng nói, tiếng cười và thằng Bảng con mình còn có người để gọi là bố”. Chị Khiết dong trâu đi cày như những đàn bà thời chiến. Anh cứ nằng nặc xin được chết vì sống vậy khổ vợ, khổ con. Mùa bức bật quạt được một lúc anh bảo lạnh tắt đi chốc sau lại kêu nóng đòi mở.

Hai mươi hai năm họ không có nổi một tấm ảnh chung. Hai mươi hai năm không biết đến thỏi son, hộp phấn tròn hay méo, không biết đến mùi thơm của những bộ quần áo mới (chị toàn mặc lại áo quần của người khác cho-PV).